“Công nghệ lăng xê” ca sĩ của các “ông bầu”một thời

(NTD) - Cũng "nuôi gà", cũng thuê những cây bút viết bài đăng báo, cũng là ông "bầu" của các chương trình ca nhạc tạp kỹ lớn, cũng là người chiếm lĩnh một kênh giải trí, ca nhạc nào đó của đài phát thanh, đài truyền hình... các "chủ lò" đào tạo ca sĩ trước năm 1975 cũng lắm chiêu trò trong "công nghệ lăng xê"...

Khi “bầu” Tùng Lâm “điếc” nhạc

ca si5
"Quái kiệt" Tùng Lâm, một ông bầu đã đào tạo ra nhiều ca sĩ tên tuổi.
ca si2
Ca sĩ Lệ Thu.

Khi nói đến những lò “đào tạo ca sĩ” trước năm 1975, đầu tiên phải nói đến “lò” của nhạc sĩ Nguyễn Đức. Nhờ ông có hai chương trình có thể “lăng xê” trên Đài truyền hình số 9 là Ban Thiếu nhi Sao Băng và Chương trình Nguyễn Đức, cùng hai chương trình trên Đài phát thanh là Ban Việt Nhi, ban ABC. Riêng “quái kiệt” Tùng Lâm có Đại nhạc hội, và chương trình Tạp Lục trên truyền hình.

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông với đoàn văn nghệ Hoa Tình Thương mà Song Ngọc đứng đầu tàu. Đây là những “lò” nhạc giới thiệu nhiều ca sĩ nhất trong giai đoạn từ thập niên 1960 trở về sau. Như lò Nguyễn Đức có một “dòng” ca sĩ họ Phương gồm: Phương Hồng Loan, Phương Hoài Tâm, Phương Hồng Hạnh, Phương Hồng Quế, Phương Hồng Ngọc (Cẩm Hồng) hay trước đó là Hoàng Oanh có cả nghệ sĩ hài như Thanh Hoài, Trần Tỷ. Hài Tùng Lâm thì giới thiệu: Trang Thanh Lan, Trang Mỹ Dung, Trang Kim Yến rồi Chế Linh, Giang Tử.

Lớp nhạc Bảo Thu có Thanh Mai, Thanh Tâm sau này Kim Loan; nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ có Sơn Ca, Bùi Thiện, Họa Mi... Với Chế Linh (giọng ca Lýnh Chê), tuy quái kiệt Tùng Lâm có môi trường “lăng xê” nhưng về chuyên môn lại “điếc” về dạy thanh âm, nên đã liên kết với nhạc sĩ Bảo Thu và Duy Khánh đào tạo Chế Linh trở thành một danh ca như từng đào tạo ra những Trang Thanh Lan, Trang Mỹ Dung, Trang Kim Yến... Từ lò Bảo Thu (còn là ảo thuật gia Nguyễn Khuyến) cùng Duy Khánh đã cho “ra lò” nhiều ca - nhạc sĩ như: Quốc Dũng, Thanh Mai, Thanh Tâm, Kim Loan.

Việc liên kết giữa Tùng Lâm - Bảo Thu - Duy Khánh làm cho nhiều lò đào tạo ca sĩ bấy giờ lên cơn sốt, bởi ở đây có đủ môi trường để các tài năng trẻ thi thố tài năng, Tùng Lâm có sân khấu đại nhạc hội, Bảo Thu có chương trình truyền hình, dạy thanh âm và cung cách biểu diễn. Chế Linh nhờ vào “lò” Tùng Lâm mà thành danh cho đến ngày nay.

Tuy nhiên ngoài những lò “đào tạo ca sĩ” nói trên cũng có những ca sĩ thành danh từ những phòng trà, khiêu vũ trường, trong phong trào văn nghệ học đường, đại hội nhạc trẻ, những đoàn văn nghệ do chính quyền thành lập, như: Vi Vân, Julie Quang, Carol Kim, Đức Huy, Ngọc Bích, Thúy Hà Tú (Khánh Hà - Anh Tú), Thanh Tuyền, Thanh Việt, Phi Thoàn, Xuân Phát...

Ca sĩ Elvis Phương nổi danh từ năm 1972, lúc ca sĩ Thanh Thúy đang khai thác phòng trà Queen Bee cùng với ông Tuất (sau thời kỳ Khánh Ly), nhưng Elvis Phương đã tạo cho mình một chỗ đứng, khi còn là học sinh cùng với ban nhạc trẻ học đường. Sau đó Elvis Phương đi hát cho nhiều phòng trà nhưng do không ai dìu dắt lăng xê đến nơi đến chốn nên vẫn chỉ là cái bóng của những đàn anh đàn chị. Khi Thanh Thúy khai thác Queen Bee, có nhạc sĩ Ngọc Chánh làm trưởng ban nhạc Shotguns cùng Cao Phi Long, Hoàng Liêm, Đan Hà và hội nhập vào làng sản xuất băng nhạc 1972. Elvis Phương mới được biết đến từ đó. Tuy vậy, Ngọc Chánh chỉ có công “lăng xê”, còn giọng hát của Elvis Phương là do thiên phú hay từ môi trường văn nghệ học đường mà thành công.

Các lò đào tạo ca sĩ ngoài những môi trường để dễ dàng “lăng xê” gà nhà, nhưng muốn lăng xê một ca sĩ còn phải qua nhiều cửa ải khác, như tìm một nhạc phẩm thích hợp với giọng ca để ca sĩ chọn làm bài hát tủ như người ta thường ví “đo ni, đóng giày”.

Những ca khúc “đo ni, đóng giày”

ca si
Ca sĩ Chế Linh.
ca si3
Ca sĩ Duy Khánh.
ca si4
Ban nhạc Les Fanatiques trên một sân khấu nhạc trẻ.

Bài hát tủ như khi nghe Phương Dung hát chỉ có bài Nỗi buồn gác trọ là nổi bật, nghe Túy Hồng biết đang hát nhạc của Lam Phương (cũng là chồng của Túy Hồng), nghe Thanh Thúy lúc nào cũng có bản Ngăn cách của Y Vân, Thanh Lan với các ca khúc Bài không tên cuối cùng của Vũ Thành An hay Tình khúc... của Từ Công Phụng, Lệ Thu với Nửa hồn thương đau của Phạm Đình Chương, Thái Thanh thì chỉ có Dòng sông xanh nhạc Việt hóa của Phạm Duy, Khánh Ly ngoài những nhạc phẩm của Trịnh Công Sơn, thường tìm cho mình con đường mới là hát nhạc tiền chiến của Đoàn Chuẩn - Từ Linh, Văn Cao. Phương Hồng Quế với Phố đêm, Những chuyện tình không suy tư của Tâm Anh...

Sau khi ca sĩ có những bài hát tủ, các lò còn phải nhờ báo chí viết bài ca tụng tán dương, bỏ tiền cho các tạp chí lên ảnh bìa hay nhờ báo chí cho đứng tên một mục thường xuyên nào đó như phụ trách trang nhi đồng, giải đáp tâm tình, trả lời thư tín, nhưng các ông bầu đào tạo thường trao đổi ca sĩ cho nhau giữa các show truyền hình, truyền thanh, vì ít tốn kém và hiệu quả, cho khán thính giả có một cách nghe nhìn thực tế, được chú ý hơn.

Một Phương Hồng Quế có thời gian chiếm lĩnh trọn vẹn trên truyền hình, từ show này đến show khác, được phong tặng “Tivi Chi Bảo”, giữ trang Vườn Hồng, Họa Mi trên báo Tin Điển, Chuông Mai, Trắng Đen, Đồng Nai, Hòa Bình cùng Phương Hồng Hạnh. Nhưng mấy ai biết Nguyễn Đức đã bỏ ra bao nhiêu tiền để Phương Hồng Quế, Phương Hồng Hạnh được như thế? Chị em Thanh Thúy, Thanh Mỹ giữ mục Trả lời thư tín trên báo Tiếng Dân, sau này cô em út là Thanh Châu trên báo Trắng Đen... Tất cả chỉ là cái tên trên báo, vì đã có người làm giúp viết giúp và lãnh tiền giúp, đó là những ngón nghề lăng xê ca sĩ từ các lò “đào tạo ca sĩ”.

Đa số các lò nhạc chỉ thích lăng xê “nữ ca sĩ ” hơn nam vì có nhiều lý do, nhưng lý do dễ hiểu nhất đa số... các ông thầy đều có máu dê. Cũng không ai biết, cái giọng ca “trời cho” của Chế Linh ban đầu là thế nào, nhưng khán giả Sài Gòn đã nhận xét ở thời kỳ đầu, Chế Linh thường “nhái” theo giọng Duy Khánh. Sau khi về “lò” Tùng Lâm, Chế Linh mới được nhạc sĩ Bảo Thu rèn giũa từng cách ngậm hơi, lên xuống giọng, để có một tên tuổi như ngày nay.

Vào thập kỷ 60-70 của thế kỷ trước, phong trào nhạc trẻ phát triển rất mạnh ở Sài Gòn, những tình khúc lãng mạn hay “sến” ra đời như mưa rào. Ca sĩ Thanh Lan gần như chỉ hát những ca khúc do Nhật Trường - Trần Thiện Thanh sáng tác. Lệ Thu, Khánh Ly thì chỉ hát nhạc của Phạm Duy, Trịnh Công Sơn. Cùng lúc là “dòng” nhạc Pop Rock được Việt hóa như: Người tình Lara, Giàn thiên lý đã xa, Khi xưa ta bé, Chuyện tình... cùng hàng loạt ban nhạc: Black Caps, Fanatiques, Les Vampires, Rockin Stars... lần lượt ra đời. Dòng nhạc Pop Rock được Việt hóa bởi hàng loạt tên tuổi nhạc sĩ như: Lê Hựu Hà, Nguyễn Trung Cang, Trung Hành, Đức Huy, Nam Lộc... Từ đó, nhiều nhãn hiệu các dòng băng nhạc được liên tiếp ra đời, có phân chia thứ bậc hẳn hòi. Ví dụ: Nhãn Shotguns dành cho người nghe có trình độ cao, với các giọng ca: Khánh Ly, Lệ Thu, Khánh Hà, Jo Marcel “chuyên trị” các ca khúc của: Vũ Thành An, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên, Y Vân, Nguyễn Ánh 9, Phạm Thế Mỹ... Nhãn Thanh Thúy dành cho đại trà dân chúng; Nhãn Hồn Nước “sến sến” dành cho lýnh và tầng lớp lao động bình dân. Giới trí thức cao niên, hoài cổ thì đã có nhãn Tơ Vàng, với các ca sĩ: Duy Trác, Châu Hà, Sĩ Phú, Thái Thanh, Kim Tước... với các nhạc phẩm của Phạm Duy, Văn Cao, Đoàn Chuẩn - Từ Linh, Dương Thiệu Tước, Phạm Đình Chương...

 Bảo Quỳnh