Thận trọng với loại hình “sở hữu kỳ nghỉ”

(NTD) - Sở hữu kỳ nghỉ còn gọi là timeshare, đây là hình thức kinh doanh bất động sản đã có từ lâu trên thế giới. Tại Việt Nam, dù xuất hiện vào năm 2009, nhưng đến nay mô hình này vẫn khá lạ, thậm chí còn bị một số đơn vị kinh doanh biến thể, đẩy khách hàng tới những rủi ro.

15
Luật sư cho rằng có nhiều rủi ro khi khách hàng tham gia vào loại hình sở hữu kỳ nghỉ.

Sở hữu kỳ nghỉ là hình thức đầu tư khi khách hàng không có nhu cầu sử dụng căn hộ, biệt thự hoặc sử dụng ít ngày trong năm, có thể giao lại cho đơn vị quản lý và chia sẻ lợi nhuận từ việc cho thuê lại, nhằm tránh lãng phí.

Trên thế giới đã có nhiều công ty thành công với mô hình timeshare và được khách hàng đón nhận. Tuy nhiên, tại Việt Nam mô hình này đang dính phải những tai tiếng do chủ đầu tư và công ty tư vấn thiếu uy tín. Năm 2016, truyền thông trong nước đã có rất nhiều bài viết phản ánh về một công ty đầu tư dự án ở Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa áp dụng mô hình sở hữu kỳ nghỉ để lôi kéo khách hàng. Tuy nhiên, sau khi thu hàng tỷ đồng từ khách hàng, chủ đầu tư lại không triển khai dự án, khiến khách hàng vô cùng bức xúc.

Để giúp người tiêu dùng tránh được những rủi ro không đáng có khi đầu tư vào loại hình sở hữu kỳ nghỉ, luật sư Phùng Thanh Sơn, Công ty Luật TNHH Thế giới Luật pháp - Đoàn Luật sư TP.HCM, chia sẻ một số vấn đề cần quan tâm về loại hình đầu tư bất động sản mới mẻ này tới bạn đọc của Báo Người Tiêu Dùng:

Khách hàng tham gia chương trình sở hữu kỳ nghỉ được quyền sử dụng bất động sản nghỉ dưỡng (cố định hoặc linh hoạt) trong một tuần, trong một năm cho một thời gian dài, thường là 25 năm. Hàng năm, người sở hữu kỳ nghỉ còn phải đóng phí dịch vụ thường niên từ 200-300 USD/năm. Đây là phí bảo trì, dọn dẹp vệ sinh, sửa chữa, điện nước cho một tuần sử dụng của khách hàng trong năm. Khách hàng có quyền tặng cho, mua bán, để lại thừa kế quyền này. Đặc biệt là khách hàng có cơ hội trao đổi với những người sở hữu kỳ nghỉ ở hơn 100 quốc gia trên toàn thế giới. Khi trao đổi kỳ nghỉ, khách hàng còn phải chịu phí từ 100-300 USD cho một lần trao đổi thành công.

Bản chất sở hữu kỳ nghỉ là sở hữu dịch vụ chứ không phải là sở hữu bất động sản nên chủ đầu tư không có nghĩa vụ phải có bảo lãnh của ngân hàng như trường hợp khách hàng mua nhà chung cư. Do đó, nếu chủ đầu tư không đủ năng lực tài chính để triển khai dự án thì khách hàng chỉ còn cách là “khóc” cùng chủ đầu tư.

Do không phải là sở hữu bất động sản nên khách hàng sẽ không được cấp sổ hồng. Do vậy về mặt pháp lý, chủ đầu tư vẫn là người chủ sở hữu. Điều đó có nghĩa chủ đầu tư có toàn quyền cầm cố, thế chấp bất động sản nghỉ dưỡng để vay vốn ngân hàng. Trong trường hợp chủ đầu tư không có khả năng thanh toán nợ, ngân hàng hoàn toàn có quyền phát mãi tài sản để thu hồi nợ.

25 năm là một khoảng thời gian quá dài. Do đó, khách hàng không thể dự đoán được là chủ đầu tư có ăn nên làm ra hay không. Khi đó, số tiền mà khách hàng đã thanh toán cho chủ đầu tư là một khoản nợ không bảo đảm nên sẽ không được ưu tiên hoàn lại khi chủ đầu tư lâm vào tình trạng phá sản. Ngay cả chủ đầu tư chưa lâm vào tình trạng phá sản nhưng đang phải thi hành một nghĩa vụ trả nợ theo bản án quyết định của tòa thì người được thi hành án có thể yêu cầu phát mãi bất động sản để thi hành án.

Luật sư Phùng Thanh Sơn kết luận: “Cái tên sở hữu kỳ nghỉ nghe thì rất hoành tráng nhưng bản chất là hợp đồng vay tiền không có bảo đảm. Chủ đầu tư là bên đi vay còn khách hàng là bên cho vay. Khách hàng cho chủ đầu tư vay bằng tín chấp. Thay vì trả tiền và lãi suất cho khách hàng, chủ đầu tư trả khách hàng bằng dịch vụ nghỉ dưỡng có thu phí (phí dịch vụ thường niên) trong một tuần tại một nơi cố định trong mấy chục năm”.

Nguyên Vũ

_Bao NTD_So 316 _20