Miệt mài giữ lửa làng rèn Hồng Lư

(CL&CS) - Làng rèn Hồng Lư (thành phố Tam Kỳ - Quảng Nam) trải qua hàng trăm năm tuổi với bao thăng trầm thời cuộc, nhưng những người thợ ở đây vẫn luôn kiên trì giữ lửa làng rèn lớn nhất nhì xứ Quảng.

Theo các bô lão trong làng, trong kháng chiến chống Pháp, làng rèn Hồng Lư đã có những năm tháng lẫy lừng khi được cống hiến cho cách mạng. Lúc bấy giờ, trong làng không ai không biết ông Trần Ngọc, người tiên phong đi theo cách mạng. Trong khoảng thời gian chuẩn bị cho cuộc Cách mạng tháng Tám, ông Ngọc cùng nhiều thợ rèn khác trong làng đã âm thầm sản xuất ra các loại vũ khí để cung cấp, phục vụ cho lực lượng kháng chiến.

Cách mạng tháng Tám thành công, ông Trần Ngọc được Hội đồng Bộ trưởng lúc bấy giờ trao tặng bằng khen vì đã tích cực giúp đỡ và bảo vệ cách mạng, góp phần vào thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám. Từ đó, danh tiếng của làng rèn Hồng Lư vang đi khắp nơi, trong đó, tay rèn của ông Ngọc cũng được nhiều người biết tới.

Sau đó, đến đời con của ông Ngọc là ông Trần Đình Bá cũng nổi tiếng không kém cha mình vì tay rèn sắc lẹm. Những kỹ thuật của ông Bá sau đó được truyền lại cho con là ông Trần Đình Thông. Và được ông Thông giữ nghề đến tận bây giờ. Hiện ông Thông đang truyền lại cho cháu là Trần Đình Chức.

Ông Thông kể rằng, đã có một thời, làng nghề rèn Hồng Lư chao đảo, tưởng như không tồn tại lâu dài được, các lò rèn hoạt động cầm chừng, sản phẩm không tiêu thụ được. Nguyên nhân là do người tiêu dùng bị choáng ngợp trước sự xuất hiện ồ ạt của các loại sản phẩm nhập ngoại từ Trung Quốc, Thái Lan... tràn vào thị trường Việt Nam với mẫu mã đẹp, màu sắc trắng sáng, giá rẻ hơn. Nhưng rồi người dân Hồng Lư vẫn kiên nhẫn, cần cù, sáng tạo, thông minh tạo ra sản phẩm bằng chính bàn tay lao động của mình. Đơn đặt hàng cũng như sản phẩm bày bán ở các chợ đều ngày càng tăng vì chất lượng thật và độ bền của sản phẩm. Nhiều khu chợ trong và ngoài thành phố cũng đã xuất hiện hàng hóa của làng nghề Hồng Lư.

a1
Những người thợ Hồng Lư chăm chỉ với nghề dù thu nhập thấp. (Ảnh: H. Tân).

“Để làm ra được một con dao thì chúng tôi đã phải mất nhiều công sức và thời gian nên chỉ cần nhìn vào là có thể biết ngay đó là sản phẩm do lò nào làm ra. Nó phải trải qua nhiều công đoạn, bắt đầu là cắt sắt, rồi nung miếng sắt thành hình chữ nhật. Khi khối sắt được rèn đập cho ra khối chữ nhật thì người thợ bắt đầu xẻ rãnh thanh sắt để “kẹp” vào rãnh đó một miếng thép nhỏ, dài mà sau này nó hình thành là phần lưỡi dao bén ngọt, tiếp sau đó người thợ phải nung cho thanh sắt kẹp thép này tới nóng chảy và đập nhanh cho chúng khuếch tán vào nhau thành một khối. Tiếp theo là giai đoạn nung chín và dát mỏng, đồng thời uốn, nén sao cho khối thép dần dần hình thành phôi dao và cuối cùng là hình dạng con dao bán thành phẩm”.

Khi người thợ chính “quăng” con dao bán thành phẩm ra thì bên ngoài có người thợ phụ thực hiện giai đoạn làm nguội để hoàn chỉnh sản phẩm bằng cách đập, dát, gọt, dũa; sau đó lại trả cho người thợ chính thực hiện công đoạn “tôi”; đây là công đoạn bí quyết của nghề, con dao sau này có bén, tốt hay không phụ thuộc vào trình độ “tôi thép” của người thợ rèn. Và cuối cùng con dao được đưa ra cho người thợ phụ mài cho bén để xuất lò, ông Thông chia sẻ.

a
Ông Trần Đình Thông là đời thứ 3 trong gia đình vẫn miệt mài giữ lửa nghề rèn.(Ảnh: H. Tân).

Trong tất cả quá trình thực hiện các thao tác này đòi hỏi sự công phu kỹ lưỡng và kinh nghiệm cũng như trình độ tay nghề của người thợ, “non quá dễ bị quăn lưỡi, già quá sẽ bị mẻ hoặc rạn nứt, đập sắt phải khỏe mạnh, mài cũng giữ một vai trò quan trọng, đôi tai và con mắt của người thợ lâu năm trong làng nghề chỉ cần nhìn vào hoa lửa bắn ra hoặc nghe tiếng máy kêu cũng có thể biết được sản phẩm đã hoàn thiện hay chưa”. Đó chính là lý do vì sao những người vùng khác đến học nghề không thể “lấy” được bí quyết của người thợ Hồng Lư.

Điều đáng nói là Hồng Lư đã nhanh chóng áp dụng khoa học vào sản xuất và giảm nhọc nhằn cho người lao động, các hộ đã tự trang bị cho mình máy cắt sắt chứ không cắt bằng búa như trước hoặc dùng máy mài chứ không mài tay; lại còn dùng mô tơ chạy thổi lửa nung sắt chứ không quay tay như trước đây...để nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, đây cũng là biện pháp sản xuất theo hướng tập trung quy mô lớn, chuyên môn hóa ngành nghề, dần dần tạo dựng thương hiệu của một làng rèn truyền thống. Sản phẩm của làng cũng rất đa dạng, mỗi hộ có một sở trường riêng: Lò thì sản xuất cuốc, rựa nơi thì cho ra dao, rìu hay liềm, hái...

a2
Độ tinh xảo của từng sản phẩm ở đây luôn khiến người dùng hài lòng. (Ảnh: H. Tân).

Theo ông Bá, một chủ lò rèn khá lâu đời ở đây, thì nghề rèn không chỉ có sức khỏe là làm được mà cần phải học, để học được tinh thông nghề này, người nhanh nhẹn cũng phải mất 3 năm chuyên cần, không có sách vở nào ghi chép bí quyết cả, chỉ có người đi trước truyền lại cho người đi sau. Cho nên, thợ học việc phải có lòng nhẫn nại học hỏi, rồi cảm nhận bằng sự tinh tế của tai, mắt, của bàn tay chính mình. Đến khi có thể làm được sản phẩm sắc bén, rắn mà không giòn, dẻo mà không mềm, thì coi như thành nghề. Hơn nữa, các bậc tiền bối “luôn nhiệt tình truyền dạy cho lớp thợ trẻ tiếp nối, không có chuyện giấu nghề, giữ bí quyết đâu và chỉ có người có tâm mới có thể theo nghề này lâu dài được”.

Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa diễn ra mạnh mẽ khiến nhiều ngành nghề truyền thống phải chấp nhận “bỏ cuộc chơi” vì sự cạnh tranh khốc liệt của các mặt hàng công nghiệp. Và làng rèn Hồng Lư cũng không thoát khỏi sự khốc liệt đó. Theo những người lớn tuổi trong làng, vào thời hưng thịnh, Hồng Lư có đến hơn 10 lò ngày đêm đều rực lửa. Thế nhưng, đến nay chỉ còn 6 lò, trong đó có những lò chỉ hoạt động cầm chừng vì chủ lò đã lớn tuổi, mà bỏ rèn thì cũng không biết làm nghề gì khác. Riêng chỉ có lò ông Thông vì có tiếng xưa nay đến hiện tại vẫn làm đều đặn.

“Nếu trước đây, thu nhập từ lò rèn rất ổn định thì bây giờ gần như là bỏ công làm lời. Một cái rựa, 2 người phải mất 4 giờ đồng hồ mới rèn xong, bán được 200.000-250.000 đồng mới bù công được” - ông Thông chia sẻ.

Chính vì vậy, những người đến lò rèn ông Thông đặt hàng hiện nay chủ yếu là khách quen và tin tưởng tay rèn của ông. Ông còn đầu tư “hiện đại hóa” lò rèn của mình bằng việc mua các thiết bị hỗ trợ như máy đập, máy khò lửa... để chất lượng sản phẩm được tốt nhất. Sở dĩ, sản phẩm từ lò rèn truyền thống vẫn có người ưa dùng vì chất lượng về lâu dài hơn hẳn những sản phẩm công nghiệp rẻ tiền khác. 

Theo ông Bá, một chủ lò rèn khá lâu đời ở đây, thì nghề rèn không chỉ có sức khỏe là làm được mà cần phải học, để học được tinh thông nghề này, người nhanh nhẹn cũng phải mất 3 năm chuyên cần, không có sách vở nào ghi chép bí quyết cả, chỉ có người đi trước truyền lại cho người đi sau.

Đông Hải